Thế này thoát vị đĩa đốt sống, các loại phổ biến bệnh thoát vị đĩa đệm

Chắc hẳn ai trong mỗi chúng ta khi bị thoát vị đĩa đệm đều nhận thấy căn bệnh này đích thực khó chữa? Vậy làm sao bệnh lý này khó chữa đến thế? Chúng ta cùng tìm hiểu về bệnh thoát vị đĩa đệm.

chua-thoat-vi-dia-dem

1. Thế nào là thoát vị đĩa cột sống

- Nhân tố dịch tễ học:

+ Về giới: nam nhiều hơn nữ, thường chiếm tới 82%.

+ Tuổi: thường xảy ra ở lứa tuổi cần lao từ 20-49 chiếm tới trên 90%.

+ Vị trí hay gặp: thường xảy ra ở đĩa xương sống L4-L5 và L5-S1, do hai đĩa đốt sống này là bản lề vận động cốt yếu của cột sống.

+ Nghề nghiệp: phần nhiều là những cá nhân lao động tuỳ thuộc nhọc nhằn.

- Nguyên tố chấn thương: là nguyên cớ hàng đầu. Trong đó chấn thương cấp tính, mãn tính và vi chấn thương đều là những lý do gây ra thoát vị đĩa xương sống. Dù vậy chấn thương tạo ra thoát vị đĩa cột sống chỉ nảy sinh khi bệnh nhân bị bệnh lý hư xương sụn đoạn cột sống lưng hoặc thoái hóa đĩa xương sống.

- Thoái hóa đĩa đệm: đĩa đốt sống có thể bị thoái hóa sinh lý (lão hóa) hay thứ phát đến một chừng mực nào đó sẽ không chịu đựng được một lực chấn thương nhẹ hay một tác động của trọng tải nhẹ cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm.

- Những nhân tố gây nên thoát vị đĩa cột sống:

+ Áp lực tải trọng cao.

+ Sức ép căng phồng của tổ chức đĩa đệm cao.

+ Sự lỏng lẻo trong từng phần với sự rời rã của tổ chức đĩa xương sống.

+ Lực đẩy, nén ép, xoắn vặn quá mức vào đĩa đốt sống cột sống.

Nói chung có thể tổng quát, thoái hóa đĩa đệm là căn nguyên căn bản, tác động cơ học là nguyên cớ khởi phát và sự kết hợp của hai yếu tố đó là nguồn phát sinh thoát vị đĩa đốt sống.

2. Phân loại thoát vị đĩa cột sống.

2.1. Phân loại theo sự liên quan với rễ tâm thần và tủy sống.

Rothman và Marvel đã chia thoát vị đĩa cột sống ra sau thành 3 loại:

- Loại thoát vị trọng tâm cốt yếu đè nén tủy sống gây căn bệnh tủy.

- Loại thoát vị cạnh trung tâm áp chế cả tủy và rễ thần kinh gây ra bệnh lý tủy rễ.

- Loại thoát vị cạnh bên còn gọi là thoát vị lỗ ghép cốt yếu gây áp lực rễ thần kinh tạo ra căn bệnh rễ.

Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong lâm sàng.

2.2. Phân loại theo tác động với dây chằng dọc sau.

Wegeber chia các thoát vị đĩa đệm thành 2 loại:

- Thoát vị nằm trước dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn chưa bị rách.

- Thoát vị qua dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau bị rách, khối thoát vị chui qua chỗ rách vào trong ống sống.

Wood chia thoát vị đĩa đốt sống làm 4 loại dựa vào sự tương quan giữa khối thoát vị với vòng sợi, và dây chằng dọc sau:

- Loại 1: phồng đĩa xương sống (normal bulge), vòng sợi chưa bị rách hết, nhân nhày vẫn còn nằm trong vòng sợi nhưng lệch vị trí.

- Loại 2: lồi đĩa đệm hay dạng tiền thoát vị (protrusion), khối thoát vị đã xé rách vòng sợi nằm ở trước dây chằng dọc sau.

- Loại 3: thoát vị thực tiễn (extrusion), khối thoát vị đã chui qua dây chằng dọc sau, nhưng còn dính liền với phần nhân nhày nằm phía trước.

- Loại 4: thoát vị đĩa xương sống có mảnh rời (sequestration), là có một phần khối thoát vị tách rời khỏi phần đĩa đốt sống nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di cư đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi xuyên qua màng cứng gây gây áp lực tủy.

Cách phân loại này liên quan chặt đẹp đến chỉ định và kết quả chữa trị. Vì hàm lượng bệnh nhân có phồng và lồi đĩa xương sống tuy rất cao nhưng không một mực phải chữa trị giải phẫu. Trái lại, thành quả phẫu thuật lại đạt cao nhất ở nhóm thoát vị có mảnh rời và tiếp đến là thoát vị đĩa cột sống đích thực.

Hơn nữa còn có kiểu phân loại thoát vị theo vị trí: ra sau, ra trước, vào thân đốt (thoát vị Schmol).

Add a Comment